Vì sao tôi chọn trở thành Luật sư?
Giữa năm 2013, tôi hai mươi tuổi
Ở cái tuổi mà người ta còn đang lo lắng chuyện ra trường, chuyện xin việc, chuyện tương lai phía trước, tôi bước vào một công ty luật với tư cách là sinh viên thực tập. Tôi may mắn, thật sự may mắn – khi được các anh chuyên viên và cô luật sư, giám đốc công ty, trực tiếp giao việc, chỉ dẫn.
Khi đó tôi chưa nghĩ nhiều đến “lý tưởng nghề nghiệp”. Tôi chỉ nghĩ đơn giản: học cho xong, ra trường, rồi tính tiếp.
Cho đến khi tôi gặp vụ án đó.
Một vụ án mà đến bây giờ, hơn mười năm sau, mỗi khi nhớ lại, trong lòng tôi vẫn còn nguyên cảm giác nghèn nghẹn như những ngày còn “theo án”.
Người đàn ông ấy chết vì… bị nghi chài trộm cá.
Sáng sớm, người vợ hay tin chồng bị đánh chết. Chị ôm hai đứa con nhỏ chạy ra hiện trường. Trên chiếc ghe nhỏ giữa đường nước đục ngầu, chồng chị nằm đó – nửa thân trên gục xuống, nửa thân dưới còn chìm trong bùn. Máu loang trên mặt ghe.
Chị gào khóc.
Tiếng khóc của một người đàn bà mất chồng.
Tiếng khóc của hai đứa trẻ mất cha.
Tiếng khóc không chỉ vì cái chết, mà vì nỗi nhục bị gán cho người đã khuất hai chữ “ăn cắp”.
Anh L. làm nghề chài lưới trên sông Hậu. Nghề đi đêm, về sáng. Nghèo, nhưng đó là kế sinh nhai duy nhất của cả gia đình. Anh đi sông quen nước, quen ghe, quen từng con sóng. Người như vậy, chết trong tư thế của một kẻ cắp đang bỏ chạy.
Hai người giữ ao khai rằng họ thấy anh L. đi vào khu vực ao cá, nghi trộm nên đuổi đánh. Họ đứng trên bờ, dùng gậy đánh liên tục khi anh L. đang đẩy ghe bỏ chạy. Họ nói anh đánh họ trước và họ chỉ là người đang tự vệ.
Kết luận điều tra xác định: đây là vụ giết người.
Cô luật sư nhận bảo vệ quyền lợi cho gia đình bị hại.
Ngày người vợ đến văn phòng lần đầu, chị ngồi kể mà tôi nghe đến đâu, từng câu – từng chữ như từng lưỡi dao khứa vào da thịt mình đến đó. Không phải vì chị khóc lớn, mà vì chị kể rất nhỏ, rất mệt, như thể không còn sức để khóc nữa.
Nhà nghèo, căn nhà che tạm trên đất bồi. Đứa con lớn mới sáu, bảy tuổi. Đứa nhỏ chưa đầy mười hai tháng. Chồng chết, bỏ lại vợ con, bỏ lại cái nghèo, và bỏ lại một tiếng xấu mà người sống phải mang thay.
“Giờ người ta nói ổng là ăn cắp…” – chị nói khẽ.
Lúc đó tôi mới hai mươi tuổi. Thế giới quan của tôi về cuộc đời vốn đã đơn giản, giờ như bị ai đó đập vỡ.
Tôi được giao việc in, sắp xếp và đánh bút lục hồ sơ. Những bản khai chữ viết tay, những hình ảnh hiện trường mờ nhòe. Tôi cố đọc, cố gõ lại từng dòng để cô dễ theo dõi. Gần một tuần lễ, vừa làm hồ sơ, vừa chạy đi học học phần cuối cùng.
Và càng đọc, tôi càng thấy có điều gì đó rất sai.
- Ai lại đi lấy chài vào ao cá người khác để trộm?
- Nếu trộm, sao không chọn ao gần sông?
- Đi vào đường nước dài hơn trăm mét thì chạy đường nào?
- Mỗi con cá nặng vài ký, trong cái chài để trên ghe gần trăm con, một người làm sao nhấc nổi?
- Ao lớn như vậy, sao không có ghe trong ao khi khám nghiệm hiện trường?
- Người đứng dưới nước, hai tay đẩy ghe bỏ chạy, còn người đứng trên bờ cầm gậy – vậy đánh nhau bằng cách nào?
Quá nhiều điểm vô lý.
Phiên tòa sơ thẩm diễn ra khi tôi không được đi theo. Chỉ nghe mọi người kể lại. Hai bị cáo bị tuyên phạm tội giết người. Nhưng trách nhiệm bồi thường chỉ buộc hai người đó (dù họ chỉ là người làm thuê) – những người sắp đi tù – gánh chịu. Chủ ao, người thuê họ giữ cá, thì không.
Tôi nghe mà tức nghẹn.
Đi tù rồi, họ lấy gì bồi thường?
Vợ con người chết sẽ sống sao?
Chưa hết. Khi phiên tòa kết thúc, hai bị cáo còn đạp ghế, hăm dọa gia đình bị hại.
Chúng tôi kháng cáo.
Phiên tòa phúc thẩm, tôi được theo cô luật sư. Ngồi phía sau, tôi thấy rõ sự căng thẳng của mọi người khi các bị cáo liên tục chối, im lặng, chống đối. Nhưng cô luật sư thì không. Bình tĩnh đến lạ – từng câu hỏi của cô như đang mở dần từng lớp màn che đậy sự bẩn thỉu – dối trá trong bản tính những con người đang đứng trước vành móng ngựa; từng lớp, từng lớp sự thật dần được lộ rõ, lớp bùn nhơ trên thân xác bị hại cũng dần được rửa đi.
Rồi đến phần tranh luận.
Trước khi đi vào phần tranh luận thì vị đại diện cơ quan Công tố sẽ phát biểu phần luận tội, khi những lời phát biểu được đọc lên. Khoảnh khắc đó, tôi như bị ai đó tát thẳng vào mặt mình.
Đại diện buộc tội đề nghị áp dụng tội “giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”, cho rằng hành vi của người bị hại là nguyên nhân chính dẫn đến việc bị đánh chết.
- Tai tôi ù đi.
- Người tôi nóng bừng.
Tại sao? Sao họ có thể nói ra những điều như vậy? Sao họ có thể đẩy hết lỗi về phía một người đã chết – một người nghèo, không còn cơ hội nói một lời cho mình?
Tôi ngồi phía sau mà tay run lên. Tôi muốn đứng dậy. Muốn nói. Muốn phản ứng. Những cảm xúc phức tạp làm cho mặt tôi đỏ bừng, nước mắt như muốn trào ra. Lúc đó, với tôi một đứa sinh viên thực tập thì gần như đã quá giới hạn chịu đựng của mình.
Nhưng cô luật sư chỉ gọi tôi rất khẽ, bảo đưa hồ sơ.
Và rồi tôi được chứng kiến một cuộc tranh luận mà đến bây giờ vẫn chưa từng nghe lại lần nào tương tự.
Không kịch bản; Không bản thảo; Chỉ có sự thật.
Từng mâu thuẫn bị bóc ra.
Từng lời khai bị đặt vào đúng vị trí của nó.
Từng câu chữ được chỉ thẳng, không né tránh.
Hội trường im lặng đến nghẹt thở.
Các bị cáo cúi đầu.
Còn người đã đưa ra cái quan điểm vô lý và vô cảm trước cái chết của người khác cũng quay mặt đi. Có thể họ không muốn nghe – hay họ không dám nghe, không dám đối mặt với chính bản thân mình với chính sự thật và với chính những điều họ mới nói ra trước đó.
Gia đình bị hại bật khóc thật lớn.
Không phải vì đau mới, mà vì những ấm ức dồn nén bấy lâu nay cuối cùng cũng được nói thay – bằng tiếng nói của pháp luật.
Tấm di ảnh được ôm chặt. Một tấm hình cũ, vì nhà nghèo, lúc sống cũng không có tiền để chụp cho mình một cái ảnh tử tế.
Phiên Toà dù chưa kết thúc nhưng với những người đang tham dự thì kết qủa đã quá rõ, sự thật đã được phơi bày và thứ được chờ đợi chỉ là phán quyết cuối cùng của Hội đồng xét xử.
Khi nói lời sau cùng, hai bị cáo lần đầu quay sang, cúi đầu xin lỗi. Chỉ một câu xin lỗi, muộn màng. Nhưng với tôi, nó nói lên giá trị của nghề này.
Hội đồng xét xử vào nghị án.
“Nhân danh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam…”
Dòng chữ đầu tiên của Bản án được vị chủ toạ đọc lên thật vang giữa một hội trường lớn, đông kín người nhưng làm cho không khí trở nên trang nghiêm và trật tự. Mỗi con người, mỗi cảm xúc riêng nhưng tất cả đều chờ đợi vào một thứ – đó là công lý.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm phần về tội danh giết người của hai bị cáo,
Sưả án sơ thẩm về phần dân sự. Buộc chủ ao phải liên đới bồi thường cho gia đình bị hại.
Người vợ òa khóc.
Con của anh L. có thể ngẩng đầu đến lớp.
Tối hôm đó, tôi gọi điện báo tin cho các anh trong Công ty: “Anh ơi, thắng rồi. Mình thắng rồi.”
Chúng tôi cười trong điện thoại, giữa đêm tối.
Đêm đó, tôi biết mình muốn gì.
Và cần làm gì.
Mười năm sau, tôi vẫn nhớ tiếng khóc của người vợ hôm đó, tôi vẫn nhớ ánh mắt ngây thơ của những đứa con – trong veo và lẫn chút sợ giữa chốn đông người. Và giờ tôi vẫn đang đi – trên con đường đã chọn, vì những người không thể tự bảo vệ mình.